Dinh dưỡng cho bệnh nhân từ tuần xạ trị thứ 2 trở đi

Dinh dưỡng cho bệnh nhân từ tuần xạ trị thứ 2 trở đi

Từ tuần xạ trị thứ 2 trở đi (khi liều tích lũy đạt từ 20 Gy trở lên), các phản ứng viêm mô lành cấp tính xuất hiện do tế bào mầm niêm mạc bị phá hủy không kịp tái tạo. Chiến lược dinh dưỡng lúc này phải cá thể hóa tuyệt đối theo Vùng Chiếu Xạ.

A. DÀNH CHO BỆNH NHÂN XẠ TRỊ VÙNG ĐẦU - MẶT - CỔ
(Ung thư Vòm họng, Lưỡi, Khí quản, Thực quản trên)

Tác dụng phụ điển hình: Viêm niêm mạc miệng/họng (Mucositis), đau nuốt nặng (Dysphagia), khô miệng do teo tuyến nước bọt (Xerostomia), mất vị giác.

Phân cấp Cấu trúc Thức ăn IDDSI theo giai đoạn xạ trị:

Giai đoạn nhẹ: Tuần 2 – 3 Giai đoạn trung bình: Tuần 4 – 5 Giai đoạn nặng: Tuần 6 – 7
  • Cơm mềm, thức ăn xắt nhỏ.
  • Bổ sung thêm nước sốt, nước hầm, bơ để làm mềm.
  • Cháo xay, súp đặc, sinh tố dinh dưỡng.
  • Bổ sung dầu thực vật, bơ, sữa năng lượng cao.
  • Đồ ăn dạng lỏng hoàn toàn, sữa y học qua ống hút nhỏ.
  • Cân nhắc chỉ định đặt ống Sonde nuôi ăn sớm.
thông tin dành cho bệnh nhân xạ trị vùng đầu - mặt - cổ

1. Thay đổi cấu trúc thức ăn theo phân cấp IDDSI:

  • Chuyển dần độ đặc của thức ăn theo mức độ đau rát họng: Thức ăn mềm → Thức ăn băm nhỏ → Thức ăn xay nhuyễn/súp sệt → Thức ăn lỏng hoàn toàn.
  • Kỹ thuật bôi trơn: Rưới thêm nước sốt thịt, dầu olive, bơ thực vật, nước hầm xương đặc vào thức ăn để tạo độ trơn mượt, giúp viên thức ăn dễ dàng trôi qua thực quản mà không cọ xát gây đau rát vết loét.
Thay đổi cấu trúc thức ăn theo phân cấp IDDSI

2. Xử trí khô miệng & Nước bọt đặc quánh:

  • Nhấp từng ngụm nước nhỏ liên tục, cách nhau 10–15 phút/lần để giữ ẩm biểu mô khoang miệng.
  • Dung dịch súc miệng tự nhiên: Pha 1/2 thìa cà phê muối + 1/2 thìa cà phê Baking Soda trong 500 mL nước ấm đun sôi để nguội. Súc miệng trước và sau bữa ăn giúp làm sạch chất nhầy đờm dãi, trung hòa acid khoang miệng và xoa dịu cảm giác rát buốt.
  • Nhai kẹo cao su không đường chứa Xylitol để kích thích tuyến nước bọt tự nhiên (chỉ áp dụng khi niêm mạc chưa bị trầy loét nặng).
Xử trí khô miệng & Nước bọt đặc quánh

3. Tránh tuyệt đối các tác nhân kích thích niêm mạc:

  • Nhiệt độ thức ăn: Tuyệt đối không dùng đồ nóng, chỉ ăn khi thức ăn đã nguội hẳn hoặc âm ấm nhẹ.
  • Loại trừ thực phẩm gây xót: Vị chua đậm (chanh, giấm), vị mặn nhiều, cay nóng (ớt, tiêu, gừng cay).
  • Tránh bề mặt sắc cứng: Bánh mì giòn, đồ chiên rán giòn rụm, hạt khô thô cứng dễ gây trầy xước mô hạt đang lành.

4. Giảm đau trước bữa ăn:

  • Chủ động trao đổi với bác sĩ điều trị để được kê đơn dung dịch súc miệng giảm đau tại chỗ (như Gel Lidocaine 2% hoặc dung dịch súc miệng Xylocaine) dùng trước bữa ăn 15–20 phút để tạm thời gây tê niêm mạc, giúp bệnh nhân có thể nuốt thức ăn dễ dàng hơn.

B. DÀNH CHO BỆNH NHÂN XẠ TRỊ VÙNG BỤNG - CHẬU
(Ung thư Trực tràng, Cổ tử cung, Bàng quang, Dạ dày)

Tác dụng phụ điển hình: Viêm ruột do bức xạ (Radiation Enteritis), teo nhung mao ruột, tiêu chảy cấp, đau bụng co thắt từng cơn, giảm hấp thu chất dinh dưỡng.

thông tin dành cho bệnh nhân xạ trị vùng bụng - chậu

1. Chuyển sang Chế độ ăn Ít chất xơ thô (Low-Residue Diet):

  • Mục đích: Giảm thể tích phân, hạn chế tối đa sự co bóp và cọ xát cơ học lên bề mặt niêm mạc ruột đang bị tổn thương phù nề.
  • Thực phẩm NÊN DÙNG: Tinh bột tinh chế (gạo trắng, bánh mì trắng, cháo trắng), thịt nạc heo, ức gà bỏ da, trứng luộc kỹ, khoai tây bỏ vỏ, bí đỏ nấu mềm, cà rốt hấp chín nhừ.
  • Thực phẩm HẠN CHẾ DÙNG: Ngũ cốc nguyên hạt, ngô (bắp), các loại đậu hạt thô, rau nhiều xơ già (rau muống, măng khô, cần tây), hoa quả ăn cả vỏ hoặc chứa hạt nhỏ li ti.
Chuyển sang Chế độ ăn Ít chất xơ thô (Low-Residue Diet)

2. Kiểm soát Tiêu chảy & Tình trạng bất dung nạp Lactose thứ phát:

  • Tia xạ vùng bụng chậu làm bào mòn lớp vi nhung mao niêm mạc ruột non - nơi tổng hợp enzyme Lactase. Do đó, người bệnh rất dễ gặp hội chứng bất dung nạp Lactose dẫn tới tiêu chảy ồ ạt sau uống sữa.
  • Giải pháp: Ngừng ngay sữa tươi thông thường. Chuyển sang dùng các dòng Sữa dinh dưỡng Y học không chứa đường Lactose (Lactose-free) hoặc Sữa công thức đạm thủy phân dạng Peptide giúp hấp thu trực tiếp tại thành ruột mà không cần thông qua men tiêu hóa.
  • Hạn chế các loại đường đơn tự do (nước ngọt đóng chai, bánh kẹo ngọt, mật ong) vì làm gia tăng áp lực thẩm thấu trong lòng ruột, khiến triệu chứng tiêu chảy trầm trọng hơn.

3. Bù nước và Điện giải tích cực chống kiệt sức:

  • Bù ngay 1 ly dung dịch Oresol (pha đúng chuẩn tỷ lệ theo hướng dẫn trên gói) sau mỗi lần đi tiêu phân lỏng.
  • Bổ sung thêm nước cháo muối (nấu 1 nắm gạo trắng + 1 nhúm muối với 1 lít nước, chắt lấy phần nước ấm uống rải rác) giúp bù lượng Natri và Kali thất thoát.

C. CHỈ ĐỊNH CAN THIỆP DINH DƯỠNG TÍCH CỰC (ĐẶT SONDE NUÔI ĂN)

Bác sĩ Dinh dưỡng và Bác sĩ Xạ trị sẽ chỉ định đặt Ống thông mũi - dạ dày (NGT) hoặc Mở thông dạ dày qua da (PEG) khi xuất hiện các tiêu chí lâm sàng sau:

  • Bệnh nhân sụt cân nhanh ≥ 5% tổng trọng lượng cơ thể so với thời điểm trước khi bắt đầu điều trị.
  • Không thể dung nạp bằng đường miệng đạt ≥ 60% nhu cầu năng lượng tối thiểu kéo dài trên 7–10 ngày liên tục do đau nuốt cấp độ 3–4.
  • Tổn thương viêm loét niêm mạc lan rộng toàn vùng hầu họng, nguy cơ nuốt sặc hoặc viêm phổi hít cao.

* Lưu ý quan trọng: Việc đặt ống thông nuôi dưỡng sớm là biện pháp y khoa chủ động bảo vệ người bệnh, giúp truyền dinh dưỡng trực tiếp vào dạ dày một cách êm ái, đảm bảo thể trạng bền vững để hoàn thành đủ liệu trình xạ trị mà không bị gián đoạn hay phải giảm liều.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Lalla, R. V., et al. (2014). MASCC/ISOO clinical practice guidelines for the management of mucositis secondary to cancer therapy. Cancer, 120(10), 1453-1461.
  • Isenring, E. A., et al. (2004). Nutrition intervention is beneficial in oncology outpatients receiving radiotherapy. Supportive Care in Cancer, 12(5), 314-320.
  • ESPEN. (2021). Clinical Practice Guideline on Clinical Nutrition in Cancer. Clinical Nutrition, 40(5), 2891-2932.
  • Crichton, M., et al. (2019). Nutritional interventions for managing gastrointestinal toxicity in adults receiving radiation therapy to the pelvis. Cochrane Database of Systematic Reviews, (9).

Bài viết liên quan

  • Dinh dưỡng cho bệnh nhân hóa xạ trị đồng thời (Concurrent Chemoradiotherapy - CCRT)

    Hóa xạ trị đồng thời (CCRT) là phương pháp phối hợp giữa điều trị toàn thân (hóa chất) và tại chỗ (tia xạ) nhằm hiệp đồng tác dụng, tối đa hóa tỷ lệ kiểm soát khối bướu nhờ hóa chất làm tăng độ nhạy của tế bào ung thư với bức xạ. Tuy nhiên, cơ chế này cũng gây ra độc tính cộng dồn cấp tính lên các mô lành xung quanh, khiến phản ứng viêm niêm mạc, khô miệng, mệt mỏi và dị hóa cơ bắp diễn ra dồn dập hơn bình thường.

  • Dinh dưỡng Cho bệnh nhân tuần xạ trị đầu tiên

    Khác với hóa trị tác động toàn thân, xạ trị là liệu pháp điều trị tại chỗ thông qua việc sản sinh các gốc tự do để tiêu diệt tế bào u. Trong tuần đầu tiên (từ buổi 1 đến buổi 5), liều bức xạ tích lũy còn thấp nên cơ thể chưa bộc lộ các phản ứng viêm cấp tính, người bệnh vẫn duy trì sức ăn và chức năng tiêu hóa tốt. Đây được xem là "cửa sổ vàng" dinh dưỡng để chủ động nạp đầy năng lượng dự trữ, củng cố khối cơ và protein, xây dựng nền tảng thể lực vững chắc giúp cơ thể sẵn sàng đối phó với tình trạng viêm niêm mạc tích lũy ở các giai đoạn xạ trị tiếp theo.

  • Dinh dưỡng Cho bệnh nhân sau tuần đầu hóa trị (ngày 7 – ngày 21)

    Giai đoạn từ ngày thứ 7 đến ngày 21 sau khi truyền hóa chất là thời điểm xuất hiện giai đoạn hạ tế bào máu (Nadir), khiến bạch cầu trung tính giảm sâu và làm tăng nguy cơ vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng máu nguy hiểm. Đồng thời, đây cũng là thời điểm tủy xương bắt đầu bước vào chu trình tăng sinh mạnh mẽ để tái tạo lại các dòng hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu. Do đó, mục tiêu dinh dưỡng trọng tâm lúc này là tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc vệ sinh an toàn thực phẩm, song song với việc tăng cường bổ sung protein chất lượng cao cùng các vi chất thiết yếu như sắt, folate, vitamin B12 và kẽm để thúc đẩy quá trình hồi phục thể trạng toàn diện.

  • Dinh dưỡng Cho bệnh nhân trong những ngày đầu hóa trị (ngày 1 – ngày 5)

    Trong 5 ngày đầu tiên sau khi truyền hóa chất, cơ thể người bệnh đối mặt với độc tính cấp tính đạt đỉnh điểm, gây kích thích trung tâm nôn, biến đổi vị giác (vị đắng, kim loại) và tình trạng liệt nhẹ dạ dày dẫn đến chán ăn, đầy trướng. Mục tiêu dinh dưỡng cốt lõi giai đoạn này không đặt nặng việc tăng cân, mà ưu tiên bù nước và điện giải, duy trì mức năng lượng tối thiểu cùng các giải pháp kiểm soát hiệu quả triệu chứng tiêu hóa để người bệnh vượt qua đợt điều trị an toàn, nhẹ nhàng nhất.

  • Dinh dưỡng cho bệnh nhân trước ngày hóa trị (1–3 ngày trước truyền hóa chất)

    Giai đoạn 1–3 ngày trước khi truyền hóa chất là "thời gian vàng" để tối ưu hóa thể trạng cho người bệnh ung thư. Bổ sung đầy đủ năng lượng cùng nguồn đạm chuẩn giúp gan dự trữ glycogen và bảo tồn khối cơ, hạn chế nguy cơ suy kiệt hay phải giảm liều điều trị. Song song đó, chủ động bù nước đúng cách giúp tăng tốc độ lọc cầu thận (GFR), tạo điều kiện đào thải độc tố nhanh chóng và bảo vệ tối đa chức năng gan thận suốt chu kỳ hóa trị.

  • Các món ăn, tráI cây làm chặt phân, giảm tiêu chảy

    Các món ăn và trái cây giúp làm chặt phân, hỗ trợ giảm tiêu chảy hiệu quả bằng dinh dưỡng